SKKN môn Chính tả

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Phúc (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:55' 19-01-2010
Dung lượng: 130.0 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
PHẦN MỘT : MỞ ĐẦU
A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong đời sống có biết bao điều đáng nhớ, đáng ghi lại, đáng học hỏi,…song những kiến thức, mhững kinh nghiệm quý báu ấy đều sẽ vượt trôi theo thời gian nếu không được lưu giữ lại.
Có lẽ không một ai có thể phủ nhận được tầm quan trong của chữ viết. Sáng tạo ra chữ viết, loài người có thêm một phương tiện thông tin. Chữ viết là một phát minh quan trọng của loài người. Không có chữ viết, không biết chữ và không thể hiện được chữ viết đúng chuẩn, con người tự hạn chế các hoạt động giao tiếp hoặc làn cho các hoạt động giao tiếp bị hạn chế. Không biết chữ năng lực tư duy của con người cũng bị hạn chế, khó phát triển. Ngôn ngữ trao đổi trong cuộc sống cũng cản trơ( rất nhiều đến ý cần diễn đạt.
Trong giáo dục, trẻ em thường bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ mới có phương tiện để học Tiếng Việt và học các môn học khác. Trẻ không biết chữ không có điều kiện tiếp xúc ngôn ngữ, không thể tiếp thu tri thức văn hoá, khoa học một cách bình thường.
Ta có thể hiểu, biết chữ là biết đọc thông viết thạo một ngôn ngữ. Muốn đọc thông viết thạo trẻ phải em phải học chính tả. Chính tả là phân môn có tính chất công cụ. Nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập của trẻ.
Như chúng ta đã biết, mặc dầu giữa các địa phương vẫn có sự khác nhau đáng kể trong phát âm, các âm tiết của Tiếng Việt nói chung đều có một chuẩn chính tả thống nhất đó là phát âm của thủ đô Hà Nội, tiêu biểu của âm miền Bắc. Tuy nhiên một số học sinh phát âm còn lẫn lộn giữa các âm như: ch/tr ; s/x ; r/d/gi ; l/n…các vần như: ưu/iu ; ươu/iêu …
Trong nhiều năm giảng dạy lớp 5 ở trường tiểu học Trần quốc Toản, một địa bàn chiếm đa số là người Hoa tôi nhận thấy học sinh ít có hứng thú học phân môn này. Hầu hết các em cho rằng phân môn Chính tả là một môn học khó, khô khan. Nhiều bài tập với yêu cầu khó thực hiện… dẫn đến tiết học kém hiệu quả. Qua điều tra tình hình chung toàn trường, chữ viết các em còn xấu, sai lỗi chính tả nhiều, chữ viết chưa đúng mẫu quy định…
Là một giáo viên tiểu học, đứng trước thực trạng đó, tôi không khỏi băn khoăn suy nghĩ. Sau nhiều năm giảng dạy tôi tìm tòi học hỏi kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy của đồng nghiệp, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm về dạy môn chính tả. Hy vọng rằng sẽ cùng các bạn đồng nghiệp trao đổi để đạt kết quả tốt hơn ở phân môn này.





















PHẦN HAI : NÔI DUNG
B. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương trình môn chính tả ở lớp 5 có một vị trí rất quan trọng, chính tả được tách thành một phân môn độc lập,song song tồn tại với những phân môn học khác như: Tập đọc, Tập làm văn, Từ ngữ, ngữ pháp…Ngoài ra chính tả còn được dạy trong tất cả các giờ học của các môn học khác. Vì vậy học tốt phân môn Chính tả để làm cơ sở học tốt các phân môn học khác trong môn Tiếng Việt.
Chính vì vậy, ngay từ buổi đầu, giáo viên phải rèn kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe.
Như chúng ta đã biết nội dung chính tả tiếng Việt bao gồm các quy tắc dùng chữ để viết âm tiết. Chính tả có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả,hay nói cách khác là giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả.
Ngoài ra nó còn rèn cho học sinh tác phong nhanh nhẹn, làm việc khoa học, độc lập, có ý chí vượt khó, kiên trì, cẩn thận, tự tin, óc thẩm mỹ đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý tiếng mẹ đẻ, biểu thị tình cảm đó trong viết chính tả.
Chương trình phân môn Tiếng Việt lớp 5 gồm 35 tiết chia đều ở 35 tuần, tri thức tiếng Việt trong chương trình Tiếng Việt tiểu học tương đối toàn diện, phục vụ cho việc hình thành các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Theo yêu cầu của chương trình học sinh cuối lớp 5 phải đạt yêu cầu cơ bản về viết chính tả, nghĩa là không mắc phải các lỗi phổ biến như: đày tớ, Trằm trồ, chỗi dậy, già giặn…
Nhưng trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy còn một số không nhỏ học sinh chưa đạt được điều đó. Các lỗi do mắc phải là
 
Gửi ý kiến

THƯ VIỆN VIOLET